Giảm vừa phải đến đi ngang – kỳ vọng giá duy trì dưới vùng kháng cự
| Strategy Type | Chênh lệch tín dụng theo chiều dọc – quan điểm giá xuống (Vertical Credit Spread - Bearish) |
| Market Outlook | Giảm vừa phải đến đi ngang – kỳ vọng giá duy trì dưới vùng kháng cự |
| Risk Profile | Giới hạn = Độ rộng giá thực hiện trừ Tín dụng nhận được |
| Reward Profile | Giới hạn = Tín dụng ròng nhận được |
| Time Horizon | 15-45 ngày là tối ưu để thu giá trị thời gian (theta) |
| Capital Requirement | Ký quỹ (sức mua bị chiếm dụng) ≈ mức lỗ tối đa: khoảng $2.000–$4.000 mỗi hợp đồng SPX (hoặc ~$200–$400 với XSP) tùy độ rộng. LƯU Ý: chiến lược này chỉ thực hiện được trên thị trường quyền chọn quốc tế — thị trường Việt Nam hiện CHƯA có quyền chọn niêm yết. |
| Best Used When | Môi trường IV cao (VIX trên 18) với giá nằm dưới vùng kháng cự mạnh. Vì Việt Nam chưa có quyền chọn/chỉ số biến động niêm yết, tín hiệu IV áp dụng cho thị trường quyền chọn quốc tế nơi chiến lược được thực hiện. |
| Market Structure Note | ⚠️ QUAN TRỌNG: Thị trường chứng khoán phái sinh Việt Nam do Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) vận hành, bù trừ qua Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam (VSDC), chịu sự quản lý của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) thuộc Bộ Tài chính. Sản phẩm phái sinh hiện có: Hợp đồng tương lai (HĐTL) chỉ số VN30 (từ 8/2017), HĐTL chỉ số VN100 (ra mắt cuối 2025), và HĐTL trái phiếu Chính phủ. Việt Nam CHƯA có quyền chọn (options) niêm yết, do đó KHÔNG thể xây dựng Bear Call Spread trên thị trường nội địa. Chiến lược này được trình bày để học/mô phỏng trên AlgoKing và để thực hiện trên thị trường quyền chọn quốc tế (SPX/SPY...). Tại nội địa, quan điểm giá xuống được thể hiện bằng vị thế BÁN (short) HĐTL VN30 — một vị thế định hướng, không phải chiến lược thu phí. |
| Trading Hours | HĐTL VN30 nội địa (công cụ thay thế cho quan điểm giá xuống): 9:15–9:45 sáng giờ Việt Nam (sau khi phiên ATO 8:45–9:00 và biến động mở cửa lắng xuống). Bear Call Spread trên quyền chọn Mỹ (SPX...): vào lệnh khoảng 21:00–23:00 giờ Việt Nam vào mùa hè Mỹ (EDT, phiên Mỹ mở lúc 20:30 ICT) hoặc 22:00–24:00 vào mùa đông Mỹ (EST, phiên Mỹ mở lúc 21:30 ICT), sau khi biến động mở cửa Mỹ ổn định. • VN30: tránh phiên ATO 8:45–9:00 và phiên ATC 14:30–14:45 (chênh lệch giá rộng, dễ bị điều tiết, đặc biệt ngày đáo hạn). Quyền chọn Mỹ: tránh 30 phút đầu phiên Mỹ và các thời điểm công bố dữ liệu vĩ mô (FOMC, CPI, NFP). • VN30: 9:45–11:10 và 13:00–14:00 (giá ổn định). Quyền chọn Mỹ: phần giữa phiên Mỹ. Lưu ý chênh lệch múi giờ: phiên Mỹ diễn ra vào ban đêm theo giờ Việt Nam (ICT, UTC+7), cần cân nhắc kỹ khi quản trị vị thế qua đêm. |
| Expiry Behavior | HĐTL VN30 KHÔNG có đáo hạn hàng tuần — chỉ đáo hạn hàng tháng. Ngày giao dịch cuối là thứ Năm tuần thứ 3 của tháng đáo hạn. Ngược lại, quyền chọn Mỹ (SPX/SPY) có đáo hạn hàng tuần và hàng ngày để lựa chọn. • VN30: thứ Năm tuần thứ 3 hàng tháng (nếu trùng nghỉ lễ thì lùi về ngày giao dịch liền trước); thanh toán bằng tiền mặt theo giá trung bình số học 30 phút cuối phiên (loại 3 giá trị cao nhất và 3 giá trị thấp nhất). Tại mỗi thời điểm luôn có 4 HĐTL niêm yết: tháng hiện tại, tháng kế tiếp và 2 tháng cuối của 2 quý gần nhất. |
Không trên thị trường nội địa. Thị trường phái sinh Việt Nam (do HNX vận hành) hiện chỉ có HĐTL chỉ số VN30/VN100 và HĐTL trái phiếu Chính phủ - chưa có quyền chọn (options) niêm yết. Chứng quyền có bảo đảm (CW) tồn tại nhưng nhà đầu tư cá nhân chỉ được MUA, không được bán khống, nên không thể tạo vị thế thu phí. Để thực hiện chiến lược này, bạn có thể: (1) học và mô phỏng trên AlgoKing; (2) giao dịch thật trên quyền chọn quốc tế (SPX/SPY/QQQ) qua kết nối broker quốc tế. Tại nội địa, quan điểm giá xuống được thể hiện bằng cách BÁN (short) HĐTL VN30 - nhưng đó là vị thế định hướng, không có lợi thế theta và rủi ro lớn hơn credit spread.
Vì bạn đang BÁN một quyền chọn (Call bán) có nghĩa vụ tiềm năng. Sàn cần ký quỹ để đảm bảo bạn có thể bù đắp khoản lỗ tiềm năng. Bear Put Spread chỉ liên quan đến việc mua là vị thế rủi ro chính, nên cần ít ký quỹ hơn.
Không cái nào tốt hơn một cách phổ quát. Dùng Bear Call khi giảm giá (kỳ vọng giá giảm hoặc đi ngang). Dùng Bull Put khi tăng giá (kỳ vọng giá tăng hoặc đi ngang). Bull Put có lợi thế nội tại hơi nhiều hơn do độ nghiêng Put, nhưng Bear Call hiệu quả tốt khi kháng cự kỹ thuật mạnh.
Bạn chịu lỗ tối đa. Đây là lý do vì sao: (1) Đừng dùng trước các sự kiện nhị phân, (2) Đặt giá thực hiện bán trên kháng cự mạnh, (3) Không bao giờ mạo hiểm quá 2% vốn mỗi lệnh. Bản chất rủi ro xác định nghĩa là khoản lỗ của bạn bị giới hạn, không như Call trần (naked call).
Không! Call bạn đã mua đóng vai trò bảo hiểm. Khoản lỗ của bạn giới hạn ở (Độ rộng spread - Tín dụng nhận được) × hệ số nhân. Đây là lý do gọi là 'rủi ro xác định' - bạn biết trước trường hợp xấu nhất.
Toán học: Bạn nắm bắt 50% lợi nhuận trong ~50% thời gian. 50% còn lại tốn 50% thời gian còn lại CỘNG mang rủi ro tăng giá. Lợi nhuận theo năm cao hơn với cách thoát tại 50% vì bạn có thể tái triển khai vốn sớm hơn.
Đóng spread hiện tại (mua lại Call bán, bán Call mua). Mở spread mới với: (1) Giá thực hiện cao hơn - trên kháng cự mới, (2) Đáo hạn xa hơn - thường +30 ngày. Cố gắng thu tín dụng ròng trên giao dịch tổng hợp.
Có, đây là chiến lược phổ biến! Kết hợp Bear Call (trên giá) với Bull Put (dưới giá) tạo Iron Condor - có lãi trong thị trường đi ngang. Tín dụng tổng hợp cao hơn và bạn trung lập delta.
Mục tiêu tín dụng 25-33% độ rộng spread. Với spread 50 điểm, nhắm tín dụng $12,50-16,50 mỗi điểm. Dưới 20% nghĩa là rủi ro/lợi nhuận kém. Trên 35% nghĩa là giá thực hiện bán có thể quá hung hăng (quá gần giá hiện tại).
Độ nghiêng Put dốc vì ai cũng mua Put để phòng ngừa sụp đổ (phí từ nỗi sợ). Độ nghiêng Call phẳng hơn vì ít 'nỗi sợ' về các đợt tăng. Điều này nghĩa là Bear Call Spread thu ít phí nội tại hơn so với Bull Put Spread - bạn cần thiết lập kỹ thuật mạnh hơn để bù đắp.
Bù đắp cho việc thiếu lợi thế độ nghiêng bằng: (1) Kháng cự kỹ thuật mạnh hơn - nhiều mức hội tụ, (2) Vào lệnh sau đợt tăng khi IV tăng vọt, (3) Ngưỡng IV Rank cao hơn một chút (50%+ so với 40% cho Bull Put), (4) Kết hợp với Bull Put để tạo Iron Condor.
Trong thị trường trung lập: chia 50/50 tạo hiệu ứng Iron Condor. Trong thiên hướng giảm: 60% Bear Call, 40% Bull Put. Trong thiên hướng tăng: ngược lại. Mục tiêu delta ròng danh mục giữa -20 và +20 mỗi $1 triệu vốn. So le các điểm vào lệnh qua các kỳ đáo hạn khác nhau.
EV = (P_thắng × Tín dụng × 0,5) + (P_lỗ nhỏ × -Tín dụng) + (P_lỗ tối đa × -Lỗ tối đa). Với thoát tại 50% lợi nhuận: P_thắng tăng lên ~75%, lãi trung bình = 50% tín dụng. Với dừng lỗ 100% tín dụng: P_lỗ tối đa giảm xuống ~10%. Điều này thường cải thiện EV 50-80%.
Chỉ khi: (1) Giá đã di chuyển đáng kể dưới giá thực hiện bán (rất an toàn), (2) Còn rất ít DTE, (3) Theta còn lại đáng kể. Ngay cả khi đó, thoát tại 50-65% thường là tối ưu. Vượt 65%, tỷ lệ rủi ro/lợi nhuận còn lại xấu đi nhanh chóng.
Tương quan cao = rủi ro tập trung. Nếu tất cả spread đều trên SPX, một đợt tăng làm hại tất cả. Đa dạng hóa qua: SPX, NDX, RUT, và các cổ phiếu thanh khoản. Cũng so le các kỳ đáo hạn. Mục tiêu tương quan < 0,7 giữa các vị thế để đa dạng hóa đúng cách.
Full guided lessons, quizzes, and a complete strategy library for the Vietnam market. One-time purchase. No subscription, ever.
Get Vietnam access →